Liên kết nhanh

HaLongthuysinh Online



Hotline: 0918596868


Tin tức

Tuyển sinh ĐH-CĐ: Đến 2015 vẫn theo “3 chung” và từ năm 2016 không thi theo khối

(13/02/2012)

Sáng nay 14.2, tại Hà Nội đã diễn ra hội nghị hiệu trưởng các trường ĐH - CĐ. Tại đây, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga đã tổng kết những vấn đề đổi mới quản lý giáo dục và những nhiệm vụ trọng tâm.Từ năm 2016 - 2019, các trường sẽ tổ chức thi tuyển sinh một đợt nhiều môn, trong đó có 2 môn công cụ bắt buộc là toán, ngữ văn.

Thứ trưởng cho biết, dự kiến lộ trình đổi mới tuyển sinh như sau: từ nay đến 2015 tiếp tục giữ ổn định công tác tuyển sinh theo giải pháp 3 chung. Tuy nhiên sẽ tiếp tục có điều chỉnh, bổ sung khối thi, tổ hợp khối xét tuyển, tạo sự linh hoạt cho các trường và nhiều cơ hội thuận lợi cho thí sinh.

Từ năm 2016 - 2019, các trường sẽ tổ chức thi tuyển sinh một đợt nhiều môn, trong đó có 2 môn công cụ bắt buộc (toán, ngữ văn) và các môn tự chọn; các trường quy định tổ hợp các môn thi để xét tuyển theo từng ngành đào tạo, không thi theo khối.

Từ năm 2020 trở đi, khi luật giáo dục đã đi vào cuộc sống, sự phân tầng ĐH đã được thực hiện và công tác kiểm định đi vào nền nếp, việc thi tuyển sinh chỉ còn diễn ra ở các ĐH tốp đầu, các trường ĐH theo định hướng nghiên cứu. Tất cả các trường còn lại sẽ xét tuyển dựa trên kết quả học tập phổ thông.



Thí sinh nộp hồ sơ đăng ký dự thi - Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho biết, có một số nội dung chưa được Bộ GD-ĐT đề cập.

Thứ nhất là việc mất cân đối trong tuyển sinh. Qua tuyển sinh những năm qua có hơn 40% thí sinh thi vào ngành kế toán, tài chính ngân hàng. Như vậy có cần điều chỉnh không, tự xác định chỉ tiêu tuyển sinh có tiếp tục làm mất cân đối không...

Thứ hai, chưa thấy báo cáo về đổi mới quản lý tài chính. Yêu cầu về tăng học phí thì tăng chất lượng như thế nào. Quốc hội chấp nhận tăng học phí thì chất lượng giáo dục tăng đến đâu? Việc kiểm định chất lượng giáo dục ĐH, các báo cáo chưa đề cập.

Đặc biệt, việc thực hiện công khai của các trường đến đâu, có tác dụng gì, kết quả ra sao chưa thấy báo cáo. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy, bồi dưỡng giáo viên đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ đến năm 2014 phải chấm dứt tình trạng ĐH dạy ĐH có làm được không?

Trong buổi sáng, các trường ĐH đã thảo luận những vấn đề mà Bộ GD-ĐT và Phó Thủ tướng đã đề cập.

Đa số ý kiến đã nhất trí với nội dung đổi mới về kỳ thi tuyển sinh năm nay và lộ trình đổi mới đến năm 2020.

Riêng việc Bộ không in cuốn Những điều cần biết thì còn chưa nhận được sự đồng thuận của các trường do lo lắng thí sinh ở vùng sâu vùng xa sẽ gặp khó khăn.

Tuyển sinh ĐH-CĐ: Đến 2015 vẫn theo “3 chung”

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga (ảnh) đã có cuộc trao đổi với PV Báo Thanh Niên về những đổi mới của giáo dục đại học (GDĐH).

  
Thay đổi cách thi tuyển sinh ĐH-CĐ phải kết hợp với đổi mới cách dạy, cách học ở bậc phổ thông và định hướng học sinh học toàn diện, không học tủ, không học lệch

Việc tuyển sinh ĐH sẽ có lộ trình đổi mới như thế nào, thưa ông?

Việc đổi mới tuyển sinh sẽ được thực hiện có lộ trình, trong tổng thể đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, theo hướng gọn nhẹ, thiết thực và hiệu quả. Thay đổi cách thi tuyển sinh ĐH-CĐ phải kết hợp với đổi mới cách dạy, cách học ở bậc phổ thông và định hướng học sinh học toàn diện, không học tủ, không học lệch…

Từ nay đến 2015, về cơ bản giữ ổn định theo giải pháp “3 chung” (chung đợt, chung đề, sử dụng chung kết quả thi - PV) với những điều chỉnh nhỏ về kỹ thuật, theo hướng tiếp tục giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường, tăng thêm cơ hội cho thí sinh và giảm áp lực cho xã hội.

 
Kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ trong những năm tới vẫn chung đợt, chung đề, sử dụng chung kết quả thi với những điều chỉnh nhỏ về kỹ thuật - Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Nhiều chuyên gia GDĐH cho rằng cần phải thiết kế lại hệ thống GDĐH bằng việc phân tầng để nhà nước sẽ có cơ chế tài chính tương thích với mô hình quản trị. Vậy ý kiến của ông thế nào? Bao giờ thì vấn đề này mới được triển khai?

Yêu cầu về kỹ năng, trình độ chuyên môn, phương pháp tác nghiệp của đội ngũ nhân lực rất đa dạng, nhất là khi đất nước ta hội nhập quốc tế. Do đó, các trường trong hệ thống GDĐH cũng phải có mục tiêu đào tạo đa dạng và chuyên biệt. Hệ thống GDĐH cần được phân tầng theo hướng ĐH nghiên cứu, ĐH ứng dụng và các trường CĐ đào tạo nghề nghiệp. Chương trình, phương pháp đào tạo cũng như đầu tư cho các loại hình trường này cũng khác nhau.

Tuy nhiên, cho đến nay nước ta chưa có quy phạm pháp luật cụ thể hóa chính sách của Nhà nước về phân tầng ĐH để làm căn cứ đầu tư, giao nhiệm vụ, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục đại học.

 
Đào tạo đi tắt đón đầu kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ những năm tới với những điều chỉnh nhỏ về kỹ thuật chỉ có ở Việt Nam - Ảnh: VnExpress

Việt Nam hiện nay có nhiều thay đổi nhanh chóng do đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế và do tăng trưởng kinh tế, nên việc phổ biến công cụ bắt buộc cần phải phù hợp chiến lược phát triển nguồn nhân lực chí tuệ tương nai theo hướng nằm trong viễn cảnh phát huy tính đa ngôn ngữ và đa văn hoá.

Các chương trình giảng dạy tiếng Pháp trong hệ thống giáo dục quốc gia

Tiếng Pháp là ngoại ngữ đứng thứ hai sau tiếng Anh nếu xét vào số lượng người học. Mục tiêu ưu tiên của hợp tác song phương trong lĩnh vực ngôn ngữ là duy trì việc giảng dạy tiếng Pháp lâu dài ở Việt Nam. Điều này được thể hiện trong tư tưởng và hình thức chỉ đạo các định hướng mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, nhằm đổi mới hệ thống giáo dục quốc gia. Vào tháng 9 năm 2008, thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc giảng dạy tiếng Pháp trong số 4 ngoại ngữ được dạy chính ở cấp tiểu học và trung học (tiếng Anh, tiếng Trung Quốc và tiếng Nga) và dự kiến phát triển các chương trình dạy tiếng Pháp hiện có trên phạm vi cả nước, sau tiếng Anh. Như vậy tiếng Pháp sẽ được giảng dạy đại trà từ nay cho đến năm 2020 trong hệ thống các trường công lập của Việt Nam.

Xu hướng của thế giới về tiếng trung

Trong nhiều năm qua, tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ thống trị trên thế giới. Tuy nhiên, tại hội nghị chuyên đề Dạy tiếng Trung Quốc tế lần thứ 10 (The 10th International Chinese Language Teaching symposium) ở Thẩm Dương, thủ phủ tỉnh Liêu Ninh, ông Xu Lin, Giám đốc Học Viện Khổng Tử cho biết trên thế giới ngày càng có nhiều người theo học tiếng Trung. Theo ông Xu, hiện có khoảng 40 triệu người ở các nước khác đang học tiếng Trung Quốc phổ thông.

Bên cạnh đó, phóng viên Tim Muffett thuộc đài BBC cũng cho hay tại Anh, có 16% trường công có dạy tiếng Trung Quốc, tăng gấp ba lần trong bốn năm vừa qua trong khi ở trường tư thì con số này chiếm tới 40%.

Ngoài ra, chính phủ Trung Quốc cũng rất tích cực trong việc quảng bá ngôn ngữ thông qua việc hỗ trợ và cấp ngân sách cho 35 trường công ở Anh dạy tiếng Trung Quốc.

Một trong những cơ sở quan trọng có vai trò quảng bá văn hóa, ngôn ngữ Trung Quốc ra khắp thế giới là Học viện Khổng Tử. Hiện nay, có 300 Học viện Khổng Tử đang hoạt động tích cực tại 94 quốc gia.

Việc dạy tiếng Trung ở Việt Nam?

Bà Nguyễn Hoàng Yến, nghiên cứu sinh tiến sĩ với hướng nghiên cứu về vấn đề văn hóa cũng như văn học Việt Nam và Trung Quốc tại Đại học Quốc lập Thành Công lớn vào hàng thứ nhì ở Đài Loan, cho biết trong thời kì 1979-1989 khi xảy ra cuộc chiến tranh biên giới giữa Việt Nam-Trung Quốc thì hầu như tiếng Trung đã bị loại khỏi các chương trình giảng dạy ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi quan hệ giữa hai nước được cải thiện thì việc dạy và học tiếng Trung trở nên phổ biến và hiện nay, số lượng các lớp học tiếng Trung ở Việt Nam “nhiều không kể xiết”. Theo bà, tiếng Trung được đưa vào giảng dạy không những ở bậc đại học mà còn ở một số trường cấp 3 cũng như trong các trung tâm ngoại ngữ ở nhiều tỉnh thành, đặc biệt thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.

Bà cũng nhấn mạnh số sinh viên Việt Nam sang du học Trung Quốc đứng thứ năm trong tổng số sinh viên quốc tế hiện đang theo học ở quốc gia này, trong đó có nhiều sinh viên chuyên ngành lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa Trung Hoa. Riêng tại Đài Loan, hiện có khoảng 3.000 sinh viên Việt Nam đang theo học.

Tiếng Nga – cánh cửa mở vào thế giới mới

2011 đã trở thành năm đầu tiên trong cuộc sống của Trung tâm Nga, do Quĩ “Thế giới Nga” khai trương tại thành phố Hồ Chí Minh. Mục đích căn bản của Quĩ là quảng bá tiếng Nga và dành sự hỗ trợ cho việc nghiên cứu tiếng Nga ở nước ngoài. Để làm như vậy, Quĩ  mở ra các Trung tâm của mình trên khắp thế giới.

Cũng không phải nói nhiều về điều mọi người đã biết là Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Trần Văn Giầu v.v... học tiếng Nga ở Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản tại Moskva và tiếp thu lý luận cách mạng Nga và Tây phương qua tiếng Nga.

Nhưng có lẽ còn ít người biết rằng tiếng Nga đã đến Việt Nam cùng với Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

"Những năm gần đây mối quan tâm đối với tiếng Nga ngày càng tăng lên, tôi quan sát thấy điều đó qua Trung tâm văn hóa và khoa học Nga. Số người muốn học tiếng Nga ngày càng tăng. Tại các trường đại học Việt Nam, tỷ lệ chọi khi thi vào khoa tiếng Nga cũng tăng lên".

Điều đó không hề ngẫu nhiên. Quan hệ kinh tế giữa Nga và Việt Nam ngày càng phát triển. Những năm gần đây nhiều xí nghiệp liên doanh Nga Việt quy mô lớn nhỏ được thành lập: Ngân hàng Nga Việt, mạng điện thoại di động Beeline, các trung tâm y tế...Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro sẽ khai thác dầu khí tại Nga, còn hãng Nga Rosatom sẽ xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Việt Nam. Các chuyên gia Nga cũng sẽ xây dựng hệ thống tàu điện ngầm ở thành phố Hà Nội, cũng như sẽ thực thi nhiều đề án khác. Tất cả những điều đó khiến cho mối quan tâm đối với tiếng Nga ở Việt Nam được tăng lên.

Giảng dạy tiếng Anh trong thời đại mới

Theo dự báo của các nhà phân tích, vào cuối thập kỷ này, 1/3 dân số thế giới sẽ tham gia vào việc học tiếng Anh. Nhu cầu học tiếng Anh mang tính khu vực và toàn cầu này cho thấy nhu cầu giao tiếp bằng tiếng Anh ngày càng tăng đối với việc phát triển kinh tế và xã hội ở tầm cỡ quốc gia cũng như đối với mỗi cá nhân trong xã hội.

Từ duy nhất lý giải cơn sốt học tiếng Anh là: Việc làm. Trước đây chỉ các nhà ngoại giao hoặc lãnh đạo tập đoàn mới cần tiếng Anh để làm việc, nay mọi người đều cần tiếng Anh trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, kỹ thuật, khoa học và văn hoá. Các tập đoàn lớn của Nhật Bản, Pháp, Đức...đều làm việc bằng tiếng Anh. Theo Hội đồng Anh, 80% thông tin được lưu trữ trên các phương tiện điện tử (máy vi tính, đĩa nghe nhạc, điện thoại di động...) sử dụng tiếng Anh, 66% các nhà khoa học trên thế giới đọc tài liệu bằng tiếng Anh...

Tờ Guardian (Anh) mới đây đã có một bài phân tích và bình luận về Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 của Việt Nam. Dưới đây là bài lược dịch từ bài viết này.
Theo kế hoạch cải cách đầy tham vọng của Việt Nam, tất cả các học sinh tốt nghiệp phổ thông phải đạt được một trình độ Tiếng Anh tối thiểu vào năm 2020. Tuy nhiên, các giáo viên phàn nàn rằng họ không nhận được những hỗ trợ cần thiết để nâng cao kỹ năng của mình.

Hơn 80.000 giáo viên môn Tiếng Anh tại các trường công lập ở Việt Nam sẽ phải trải qua một cuộc thi sát hạch nhằm đảm bảo họ đạt được trình độ Tiếng Anh trung cấp (B2). Đây là một phần trong kế hoạch cải cách của Bộ Giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu tất cả các học sinh tốt nghiệp phổ thông đạt được trình độ Tiếng Anh cơ bản.

Theo kế hoạch cải cách, môn toán cũng sẽ được thử nghiệm dạy bằng Tiếng Anh tại một số trường phổ thông. Tuy nhiên, nhiều giáo viên lo ngại về tương lai của họ nếu không vượt qua được kỳ thi sát hạch với nội dung tương tự như IELTS và TOEFL.

"Tất cả cả giáo viên ở bậc Tiểu học đểu cảm thấy rất lo lắng”, Nguyễn Thị La, một giáo viên môn Tiếng Anh tại trường Tiểu học Kim Đồng (Hà Nội), cho biết. “Giáo viên rất khó vượt qua kỳ thi này, đặc biệt những giáo viên ở vùng nông thôn. Trình độ B2 khá khó. Nếu không vượt qua kỳ thi này, chúng tôi không biết mình có được tiếp tục giảng dạy hay không”.
Tuy vậy, Bộ Giáo dục khẳng định trên các phương tiện thông tin đại chúng rằng giáo viên sẽ không bị sa thải nếu không đạt được trình độ Tiếng Anh B2, tương đương mức từ 5 đến 6 điểm trong bài thi IELTS.”
“Đây chỉ là một cuộc kiểm tra để xác định có bao nhiêu giao viên cần tham gia khoa đào tạo ngoại ngữ do chính phủ tài trợ trước khi tham gia các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên ngoại ngữ”, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hùng, Trưởng bộ phận thường trực của Ban quản lý đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020, cho biết.
“Giáo viên sẽ không bị sa thải nếu họ không vượt qua kỳ thi bởi vì chúng tôi đã biết phần lớn giáo viên không đạt được trình độ này. Các giáo viên sẽ được chính phủ quan tâm nâng cao trình độ, nhưng nếu họ không muốn cải thiện kỹ năng của mình, họ sẽ bị sa thải. Bởi vì chỉ những giáo viên đạt chuẩn mới có thể dạy theo chương trình mới”.
Kết quả thi sát hạch đối với giáo viên gần đây cho thấy trình độ Tiếng Anh của họ khá thấp. Tại tỉnh Bến Tre, 61 trong tổng số 700 giáo viên dự thi đạt được số điểm theo yêu cầu. Tại Huế, chỉ 1/5 giáo viên trong số 500 giáo viên Tiểu học và THCS đạt được trình độ B2. Tại Thủ đô Hà Nội, chỉ có 18% giáo viên Tiếng Anh đạt được trình độ B2. Tại một tỉnh không được nêu tên, tỷ lệ giáo viên vượt qua kỳ thi này là 1/700.
Một số nhà đào tạo nghĩ rằng trình độ B2 không quá khó đối với nhiều giáo viên, nhưng họ cần được khích lệ hơn nữa nếu chính phủ muốn có thêm 24.000 giáo viên đạt chuẩn B2 theo mục tiêu cải cách giáo dục đến năm 2020.
“Trình độ B2 là phụ hợp với giáo viên phổ thông. Những giáo viên mà tôi biết muốn nâng cao kỹ năng Tiếng Anh của họ, nhưng họ muốn lương của họ được cải thiện để họ có động lực cố gắng đạt được trình độ chuẩn”, Trần Thị Qua, một chuyên viên giáo dục tại Sở giáo dục Huế, cho biết.
Trong bản kế hoạch cải cách giáo dục đến năm 2020, 70% giáo viên ngoại ngữ dạy lớp 3 sẽ được đào tạo lại vào năm 2015 và con số này này sẽ được tăng lên 100% vào năm 2019. Giờ học môn Tiếng Anh cũng sẽ gấp đôi hiện nay và môn Toán sẽ được dạy bằng Tiếng Anh ở 30% trường THPT tại các thành phố lớn vào năm 2015.
Tuy nhiên theo một chuyên gia phát triển ngôn ngữ, các mục tiêu trong kế hoạch cải cách giáo dục của Việt Nam không thực tế.
Bà Rebecca Hales, một cựu quản lý phát triển giảng dạy Tiếng Anh tại Hội đồng Anh Việt Nam, cho biết: “Bộ Giáo dục Việt Nam đã chia thành nhiều giai đoạn. Điều này rất đáng khen ngợi, nhưng vẫn có một số vấn đề về cung và cầu cần giải quyết. Việt Nam không có giáo viên Tiếng Anh được đào tạo ở bậc Tiểu học. Vì thế, mục tiêu không thể đạt được ở thời điểm hiện tại”.
Theo bà Hales, Hội đồng Anh đã giúp đào tạo được 2000 giáo viên đạt chuẩn, nhưng bà lo ngại rằng việc mở rộng quy mô đào tạo gặp nhiều nhiều khó khăn và một trong những khó khăn đó là vấn đề kinh phí đào tạo.

 
Tác giả stylecity tổng hợp

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn: